Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: từ động lực bổ trợ đến động lực trực tiếp của tăng trưởng kinh tế hai con số

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được đặt vào vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Yêu cầu không còn dừng ở việc có bao nhiêu đề tài, nền tảng hay sáng kiến, mà quan trọng hơn là những kết quả đó tạo ra sản phẩm gì, nâng cao năng suất ra sao và đóng góp như thế nào cho tăng trưởng kinh tế. Đây là bước chuyển căn bản từ vai trò hỗ trợ sang trở thành động lực trực tiếp tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Trong mô hình tăng trưởng truyền thống, khoa học và công nghệ (KH&CN) thường được xem là một trong những yếu tố hỗ trợ sản xuất và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, khi dư địa tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, lao động và khai thác tài nguyên ngày càng thu hẹp, yêu cầu đặt ra là phải hình thành những động lực tăng trưởng mới dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) quốc gia đã xác lập rõ định hướng này. Đến năm 2030, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế được đặt mục tiêu trên 55%; quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40%.

Những mục tiêu này cho thấy một sự thay đổi quan trọng trong tư duy phát triển: KH&CN, ĐMST và CĐS không chỉ là những lĩnh vực cần được đầu tư mà phải trực tiếp tạo ra năng suất, giá trị gia tăng, sản phẩm mới và năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế.

Đo bằng đóng góp thực tế

Một trong những thay đổi quan trọng nhất là chuyển từ tư duy đánh giá hoạt động KH&CN chủ yếu bằng đầu vào và số lượng sang đánh giá bằng kết quả và tác động thực tế.

Trong thời gian dài, kết quả hoạt động KH&CN có thể được phản ánh thông qua số lượng đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu, kinh phí được bố trí, số sáng kiến, bằng sáng chế hay các nền tảng số được xây dựng. Những chỉ tiêu này vẫn cần thiết, nhưng chưa đủ để trả lời câu hỏi quan trọng hơn: KH&CN đã tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế và xã hội?

Cách tiếp cận mới đòi hỏi mỗi nhiệm vụ KH&CN, ĐMST và CĐS cần gắn với một bài toán cụ thể của phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó, kết quả phải được xem xét thông qua khả năng ứng dụng, thương mại hóa, nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất, hình thành sản phẩm mới hoặc mở rộng thị trường.

Điều đó cũng có nghĩa phương thức phân bổ nguồn lực cần thay đổi. Đầu tư cho KH&CN không chỉ nhằm hoàn thành một nhiệm vụ nghiên cứu mà phải hướng đến giải quyết vấn đề thực tiễn và tạo ra sản phẩm có khả năng đi vào cuộc sống.

Đặc biệt, đối với các công nghệ chiến lược, yêu cầu này càng trở nên quan trọng. Nguồn lực cần được tập trung vào những bài toán lớn, có khả năng tạo tác động lan tỏa và hình thành năng lực công nghệ mới cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

Khi đó, câu hỏi đặt ra đối với một nhiệm vụ không chỉ là “đã hoàn thành hay chưa”, mà phải tiến tới trả lời rõ hơn: sản phẩm là gì, được ứng dụng ở đâu, mang lại hiệu quả như thế nào và đóng góp gì cho tăng trưởng.

Từ số hóa thủ tục đến tạo giá trị số

Chuyển đổi số cũng đang bước sang một giai đoạn mới.

Nếu giai đoạn trước tập trung nhiều vào xây dựng Chính phủ số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, số hóa hồ sơ và quy trình quản lý, thì giai đoạn tiếp theo cần hướng mạnh hơn đến kinh tế số và xã hội số.

Điều này không có nghĩa Chính phủ số đã hoàn thành vai trò của mình. Ngược lại, hạ tầng số, dữ liệu và dịch vụ công trực tuyến tiếp tục là nền tảng quan trọng. Tuy nhiên, giá trị lớn hơn của CĐS chỉ được tạo ra khi công nghệ số được lan tỏa sâu rộng vào sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.

Kinh tế số vì thế không chỉ nằm trong ngành công nghệ thông tin hay các doanh nghiệp công nghệ số. Một nhà máy ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để tối ưu dây chuyền sản xuất; một doanh nghiệp logistics sử dụng dữ liệu để tối ưu hành trình vận chuyển; một hợp tác xã ứng dụng cảm biến, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử; hay một doanh nghiệp bán lẻ sử dụng dữ liệu để dự báo nhu cầu thị trường – tất cả đều góp phần hình thành giá trị của kinh tế số.

Khi dữ liệu, AI, tự động hóa và nền tảng số được tích hợp vào các ngành kinh tế truyền thống, công nghệ không còn đứng bên ngoài quá trình sản xuất mà trở thành một bộ phận trực tiếp của năng lực sản xuất.

Bởi vậy, đánh giá kết quả CĐS cũng cần từng bước chuyển từ câu hỏi “đã số hóa bao nhiêu thủ tục, xây dựng bao nhiêu nền tảng” sang “CĐS đã giúp tăng năng suất bao nhiêu, giảm chi phí thế nào, tạo ra doanh thu mới ra sao và hình thành được những mô hình kinh doanh mới nào”.

Đây chính là bước chuyển từ số hóa hoạt động sang tạo ra giá trị từ số hóa.

Doanh nghiệp ở trung tâm đổi mới sáng tạo

Muốn KH&CN tạo ra tăng trưởng, doanh nghiệp phải thực sự trở thành một trong những chủ thể trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Thực tiễn cho thấy khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường vẫn là một trong những điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ. Viện nghiên cứu và trường đại học có thể tạo ra công nghệ, nhưng để công nghệ trở thành sản phẩm, dịch vụ và doanh thu cần có sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp.

Do đó, mối quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học cần chuyển mạnh từ phối hợp mang tính hành chính sang liên kết và đồng kiến tạo.

Doanh nghiệp là nơi phát sinh nhu cầu công nghệ, nhận diện bài toán của thị trường và tổ chức thương mại hóa sản phẩm. Viện nghiên cứu, trường đại học cung cấp tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực. Nhà nước kiến tạo thể chế, xây dựng môi trường thuận lợi, kết nối các chủ thể và chia sẻ một phần rủi ro đối với những hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm có tính mới.

Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu đối với hoạt động KH&CN ở các địa phương: không dàn trải nguồn lực mà cần gắn với lợi thế so sánh và chuỗi giá trị chủ lực.

Đối với địa phương có thế mạnh về nông nghiệp, trọng tâm có thể là công nghệ giống, công nghệ sinh học, chế biến sâu, tự động hóa, truy xuất nguồn gốc, nông nghiệp thông minh và các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đối với các trung tâm công nghiệp, ưu tiên có thể là sản xuất thông minh, robot, tự động hóa, bán dẫn, vật liệu mới, tiết kiệm năng lượng và chuyển đổi xanh.

Trong các đô thị lớn, dữ liệu, AI, công nghệ số, công nghệ tài chính, logistics thông minh và các nền tảng phục vụ quản trị đô thị có thể trở thành những lĩnh vực tạo ra giá trị mới.

Như vậy, KH&CN chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi xuất phát từ bài toán phát triển cụ thể của từng ngành, địa phương và doanh nghiệp.

Thương mại hóa là mắt xích then chốt

Một kết quả nghiên cứu dù có giá trị khoa học cao nhưng nếu không được chuyển giao, ứng dụng hoặc thương mại hóa thì khả năng đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế vẫn còn hạn chế.

Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường thường là giai đoạn khó khăn nhất của quá trình đổi mới sáng tạo. Một công nghệ có thể thành công ở quy mô thử nghiệm nhưng để trở thành sản phẩm thương mại còn phải vượt qua nhiều vấn đề: vốn, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ, thử nghiệm, chứng nhận, năng lực sản xuất và khả năng chấp nhận của thị trường.

Đây là lý do thị trường KH&CN và hệ thống trung gian chuyển giao công nghệ có vai trò ngày càng quan trọng.

Các sàn giao dịch công nghệ, tổ chức trung gian, trung tâm đổi mới sáng tạo, quỹ đầu tư và các chương trình hỗ trợ thử nghiệm có thể giúp kết nối nguồn cung công nghệ với nhu cầu của doanh nghiệp, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường.

Đối với các công nghệ mới và công nghệ chiến lược, việc hình thành cơ chế thử nghiệm, ứng dụng và tạo thị trường ban đầu cũng có ý nghĩa quan trọng. Doanh nghiệp công nghệ thường phải đối mặt với rủi ro lớn trong giai đoạn chuyển từ nguyên mẫu sang sản xuất thương mại. Nếu không có môi trường thử nghiệm và khách hàng ban đầu, nhiều công nghệ có tiềm năng khó vượt qua được giai đoạn này.

Do đó, thúc đẩy thương mại hóa không đơn thuần là bước cuối cùng của một nhiệm vụ nghiên cứu mà phải được tính đến ngay từ khi xác định bài toán, thiết kế nhiệm vụ và lựa chọn đối tác thực hiện.

Quản trị theo kết quả và tác động

Đưa KH&CN, ĐMST và CĐS trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng đòi hỏi một sự thay đổi tương ứng trong phương thức quản trị.

Tại phiên họp chuyên đề ngày 28/9/2026 về KH&CN, ĐMST và CĐS đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu được đặt ra là các lĩnh vực này phải tạo ra giá trị thực và kết quả có thể đo đếm được đối với tăng trưởng.

Điều đó đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống chỉ tiêu có khả năng phản ánh đầy đủ hơn tác động của KH&CN đối với nền kinh tế: mức tăng năng suất, tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, doanh thu từ sản phẩm mới, giá trị gia tăng của kinh tế số, năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp hay đóng góp của các ngành công nghệ cao vào tăng trưởng.

Tư duy quản trị cũng cần chuyển từ “quản lý nhiệm vụ” sang “quản trị kết quả và tác động”.

Một nhiệm vụ KH&CN thành công không chỉ vì hoàn thành đúng tiến độ và thủ tục mà quan trọng hơn là kết quả đó có được sử dụng hay không, có giải quyết được vấn đề đặt ra hay không và có tạo ra giá trị mới hay không.

Đây là bước chuyển từ “có hoạt động KH&CN” sang “có năng lực tăng trưởng dựa trên KH&CN”.

Động lực cho tăng trưởng hai con số

Mục tiêu tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu nền kinh tế phải tạo được năng suất mới thay vì chỉ gia tăng các yếu tố đầu vào.

Trong bối cảnh đó, KH&CN, ĐMST và CĐS có thể tạo ra ba chuyển dịch quan trọng: nâng cao năng suất của các ngành hiện hữu; hình thành sản phẩm, ngành nghề và thị trường mới; đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị và phân bổ nguồn lực.

Điểm cốt lõi là phải hình thành được chuỗi liên kết từ bài toán thực tiễn – nghiên cứu và phát triển – thử nghiệm – sản xuất – thương mại hóa – mở rộng thị trường.

Trong chuỗi đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và hoàn thiện thể chế; doanh nghiệp là chủ thể ứng dụng, đổi mới và thương mại hóa; viện nghiên cứu, trường đại học tạo ra tri thức và công nghệ; còn thị trường là nơi kiểm chứng giá trị cuối cùng của đổi mới sáng tạo.

Khi một kết quả nghiên cứu trở thành sản phẩm, một công nghệ được đưa vào dây chuyền sản xuất, dữ liệu được chuyển hóa thành giá trị kinh tế và một sáng kiến giúp doanh nghiệp tăng năng suất, KH&CN, ĐMST và CĐS đã trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra tăng trưởng.

Đó cũng chính là bước chuyển quan trọng mà mô hình tăng trưởng mới hướng tới: từ KH&CN như một nguồn lực bổ trợ sang KH&CN, ĐMST và CĐS như những động lực trực tiếp tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

(M.H)

Nguồn tham khảo:

[1] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024.

[2] Số liệu và định hướng dựa trên chỉ đạo tại phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển KH&CN, ĐMST và CĐS ngày 28/9/2026 (theo Báo Điện tử Chính phủ, VietnamPlus, VnExpress).