Trí tuệ nhân tạo và năng lực thích ứng của việt nam trong tiến trình chuyển đổi số

Hướng tới Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10/10, sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo đặt ra yêu cầu nhìn nhận sâu hơn về chất lượng chuyển đổi số. Khả năng tiếp cận công nghệ cần được chuyển hóa thành năng lực ứng dụng hiệu quả, quản trị rủi ro và tạo ra giá trị thiết thực cho người dân, doanh nghiệp. Đây cũng là cơ sở để Việt Nam chủ động thích ứng với những thay đổi đang diễn ra trong quản lý, sản xuất và đời sống xã hội.

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang ngày càng mở rộng phạm vi ứng dụng, đồng thời đặt ra những vấn đề vượt ra ngoài giới hạn kỹ thuật. Khi AI tham gia vào xử lý thông tin, hỗ trợ ra quyết định và cung cấp dịch vụ, chất lượng dữ liệu, trách nhiệm của người sử dụng và khả năng kiểm soát kết quả trở thành những yếu tố quan trọng. Đối với Việt Nam, năng lực thích ứng với AI vì vậy cần được tiếp cận đồng bộ trên các phương diện thể chế, dữ liệu, nguồn nhân lực và năng lực tổ chức thực hiện.

Từ ứng dụng công nghệ đến nâng cao chất lượng chuyển đổi số

Trong tiến trình chuyển đổi số, xu hướng đang chuyển dần từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ ứng dụng AI ở từng khâu riêng lẻ sang xây dựng năng lực ứng dụng AI ở quy mô ngành, lĩnh vực. Hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng trở thành những thước đo quan trọng của chuyển đổi số [1].

Xu hướng này gợi mở một cách tiếp cận rộng hơn: đầu tư công nghệ không chỉ nhằm trang bị thêm công cụ mà cần gắn với đổi mới phương thức vận hành, nâng cao năng suất và giải quyết những yêu cầu cụ thể của thực tiễn. Giá trị của AI vì thế không nằm ở việc sử dụng công nghệ nhiều hay ít, mà ở khả năng công nghệ tạo ra những thay đổi thực chất trong hoạt động của cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp.

Cùng với những cơ hội đó, sự phổ biến của AI cũng làm gia tăng thách thức đối với niềm tin trên môi trường số. AI có thể bị lợi dụng để tạo ra bài viết, hình ảnh, giọng nói và video giả mạo; kết hợp với tài khoản ảo và cơ chế đề xuất nội dung của các nền tảng mạng xã hội để phát tán thông tin sai lệch, nội dung lừa đảo. Đáng chú ý, nội dung giả mạo ngày càng có thể được cá nhân hóa theo đặc điểm của từng nhóm người dùng, khiến việc nhận diện trở nên khó khăn hơn [2].

Từ thực tế đó, truyền thông về chuyển đổi số không nên chỉ tập trung vào việc khuyến khích sử dụng công nghệ mà cần đồng thời trang bị kỹ năng kiểm chứng nguồn tin, xác minh yêu cầu giao dịch và bảo vệ thông tin cá nhân. Niềm tin số cần được hình thành từ khả năng nhận biết, phòng ngừa và kiểm soát rủi ro trong những tình huống hằng ngày.

Thích ứng với những thay đổi của thị trường lao động

Trên thị trường lao động, tác động của AI cần được nhìn nhận thận trọng, tránh đồng nhất khả năng tự động hóa với việc làm đã hoặc sẽ bị thay thế hoàn toàn.

Theo báo cáo tóm tắt do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố ngày 16/4/2026, khoảng 11,5 triệu lao động Việt Nam, tương đương khoảng 1/5 lực lượng lao động, đang làm những công việc có khả năng chịu tác động của AI tạo sinh. Báo cáo cho thấy tác động của AI có xu hướng làm thay đổi nội dung, phương thức thực hiện các tác vụ trong công việc hơn là thay thế hoàn toàn con người trên diện rộng [3].

Điều này đặt ra yêu cầu ngày càng rõ hơn về đào tạo lại, nâng cao kỹ năng và tổ chức lại công việc. Bên cạnh khả năng sử dụng công cụ AI, người lao động cần được trang bị năng lực chuyên môn, tư duy phản biện, kỹ năng kiểm chứng thông tin và khả năng đánh giá kết quả do AI tạo ra.

Trong bối cảnh đó, khả năng làm việc cùng AI có thể trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng của năng lực số. Con người vẫn giữ vai trò quyết định trong việc xác định mục tiêu, đánh giá kết quả và chịu trách nhiệm đối với các quyết định được đưa ra với sự hỗ trợ của công nghệ.

Từng bước hình thành nền tảng thích ứng

Trước những yêu cầu mới, Việt Nam đang từng bước hình thành các nền tảng cần thiết để phát triển và ứng dụng AI.

Về thể chế, Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, đã tạo lập khuôn khổ pháp lý chuyên biệt cho hoạt động phát triển và ứng dụng AI. Luật xác định các nguyên tắc như lấy con người làm trung tâm, phát triển AI an toàn, có trách nhiệm; đồng thời bảo đảm sự kiểm soát và khả năng can thiệp của con người đối với các quyết định, hành vi của hệ thống AI [4].

Từ khuôn khổ pháp lý đó, yêu cầu đặt ra trong thực tiễn là mỗi cơ quan, tổ chức khi ứng dụng AI cần xác định rõ phạm vi sử dụng, trách nhiệm của người sử dụng, quy trình kiểm tra kết quả và trách nhiệm của người phê duyệt, đặc biệt đối với những trường hợp kết quả xử lý có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức và doanh nghiệp.

Về dữ liệu, Quyết định số 804/QĐ-TTg ngày 06/5/2026 ban hành Danh mục bộ dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực thiết yếu đã xác định 15 bộ dữ liệu được triển khai trong giai đoạn 2026–2030. Các bộ dữ liệu bao quát nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ, tri thức quốc gia, pháp luật và hành chính, khoa học và công nghệ, dịch vụ công, y tế, giáo dục, nông nghiệp, giao thông, tài nguyên và môi trường... [5].

Đây là một trong những nền tảng quan trọng để phát triển các ứng dụng AI phù hợp với ngôn ngữ, pháp luật và điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Tuy nhiên, giá trị của dữ liệu không chỉ phụ thuộc vào quy mô mà còn ở chất lượng, tính chính xác, khả năng cập nhật, quyền khai thác và cơ chế chia sẻ. Vì vậy, xây dựng dữ liệu cho AI cần gắn với chuẩn hóa, quản trị và bảo đảm an toàn dữ liệu trong suốt quá trình khai thác, sử dụng.

Về nhân lực, Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 được phê duyệt tại Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 11/8/2026. Chương trình đặt phát triển nhân lực AI trong mối quan hệ với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và lực lượng lao động số [6].

Theo hướng tiếp cận này, đào tạo và bồi dưỡng về AI cần ngày càng gắn với vị trí việc làm và nhu cầu thực tế. Đối với cán bộ, công chức, nội dung bồi dưỡng có thể tập trung vào khả năng sử dụng AI phục vụ tra cứu, tổng hợp và phân tích thông tin; kiểm chứng căn cứ; bảo vệ dữ liệu; đồng thời nhận diện những trường hợp không nên hoặc không được phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả do AI tạo ra.

Từ khả năng tiếp cận đến năng lực làm chủ

Từ những chuyển động trên, có thể thấy năng lực thích ứng với AI không chỉ phụ thuộc vào mức độ phổ biến của công nghệ mà còn được quyết định bởi khả năng đưa công nghệ vào giải quyết những bài toán cụ thể.

Trước hết, cần lựa chọn bài toán ứng dụng rõ ràng và xác định được tiêu chí đánh giá, chẳng hạn thời gian xử lý, chất lượng kết quả, chi phí thực hiện hoặc mức độ thuận tiện của người sử dụng.

Tiếp đó, những ứng dụng mới cần được thử nghiệm trong phạm vi phù hợp, có cơ chế phát hiện và xử lý sai sót, đồng thời duy trì khả năng kiểm tra và can thiệp của con người trước khi triển khai trên diện rộng.

Quan trọng hơn, đầu tư công nghệ cần được thực hiện đồng bộ với chuẩn hóa dữ liệu và phát triển nhân lực. Một hệ thống AI khó có thể tạo ra giá trị bền vững nếu dữ liệu thiếu chính xác, quy trình chưa rõ ràng hoặc người sử dụng chưa đủ năng lực kiểm tra và đánh giá kết quả.

Ngày 10/10 hằng năm được xác định là Ngày Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định số 505/QĐ-TTg ngày 22/4/2022 [7]. Hướng tới Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026, truyền thông về AI vì vậy cần góp phần chuyển nhận thức thành những hành động cụ thể: sử dụng công nghệ có hiểu biết, kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu và chịu trách nhiệm đối với kết quả ứng dụng.

Năng lực thích ứng của Việt Nam trong kỷ nguyên AI sẽ không chỉ được thể hiện qua số lượng công nghệ được triển khai, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển những tiến bộ công nghệ thành năng suất cao hơn, dịch vụ thuận tiện hơn, phương thức quản trị hiệu quả hơn và môi trường số an toàn, đáng tin cậy hơn.

Đó cũng chính là những giá trị lâu dài mà tiến trình chuyển đổi số cần mang lại cho người dân, doanh nghiệp và xã hội.

(M.H)

 

Nguồn tham khảo (truy cập ngày 02/10/2026)

[1] Báo Điện tử Chính phủ (24/9/2026), Dữ liệu và AI mở hướng mới cho chuyển đổi số ngành Tài chính.

[2] Báo Nhân Dân (19/9/2026), Những bẫy lừa đảo khó nhận biết thời trí tuệ nhân tạo.

[3] Tổ chức Lao động Quốc tế – ILO (16/4/2026), Trí tuệ nhân tạo tạo sinh có thể làm thay đổi hàng triệu việc làm ở Việt Nam, theo báo cáo tóm tắt mới của ILO.

[4] Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 ngày 10/12/2025; Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Những nội dung đáng chú ý của Luật Trí tuệ nhân tạo.

[5] Quyết định số 804/QĐ-TTg ngày 06/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Danh mục bộ dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực thiết yếu.

[6] Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 11/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.

[7] Quyết định số 505/QĐ-TTg ngày 22/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Ngày Chuyển đổi số quốc gia.