Sau khi Luật SHTT được ban hành từ năm 2005 đến nay đã góp phần làm cho hệ thống SHTT của nước ta mạnh lên, việc ứng dụng quyền SHTT trong sản xuất kinh doanh được thể hiện ngày càng rõ nét. Bên cạnh đó, Luật SHTT được đánh giá là cơ bản tương thích với luật pháp chung của thế giới mà tiêu chuẩn tối thiểu là hiệp định TRIPS và đang nâng dần đến các tiêu chuẩn cao hơn. Tuy nhiên, Luật SHTT vẫn còn nhiều điểm chưa được quy định rõ ràng, khiến cho việc áp dụng Luật còn chưa thuận lợi, chính xác hoặc chủ quan gây khó khăn, lúng túng trong thi hành và thực thi. Đó là những ý kiến được nêu ra tại buổi tọa đàm Quyền sở hữu công nghiệp quản lý nhà nước và thực thi quyền SHTT do Cục SHTT tổ chức ngày 27/12/2016 tại TP.HCM.

Ông Trần Việt Hùng – chuyên gia SHTT cho rằng, qua hơn 10 năm thực hiện Luật SHTT, đã đến lúc cần xem xét để nếu có thể tập trung các nguồn lực để thực hiện việc soạn thảo trình ban hành các luật riêng cho từng đối tượng SHTT trên cơ sở Luật SHTT hiện hành. Cụ thể, cần bổ sung thêm một số nội dung như điều kiện chung đối với nhãn hiệu. Theo ông Hùng, quy định nhãn hiệu được bảo hộ là dấu hiệu nhìn thấy được. Nhưng trong thực tế chúng ta chưa có quy định nào về đăng ký nhãn hiệu là hình ảnh thay đổi theo góc nhìn hoặc hình động. Vì vậy, cần nghiên cứu bổ sung quy định hoặc có hướng dẫn cụ thể liên quan đến các đối tượng này. Đồng thời, cần đáp ứng các xu thế hiện nay của thế giới cũng như chuẩn bị cho việc ký kết và thi hành các hiệp định quốc tế về SHTT trong tương lai đó là bảo hộ cả nhãn hiệu âm thanh. Ngoài ra, cần xem xét bổ sung thêm nội dung quy định về cơ quan thẩm cũng như thủ tục công nhận nhãn hiệu nổi tiếng, ghi nhận nhãn hiệu được công nhận nổi tiếng tại Việt Nam, quy định một danh bạ riêng ghi nhận các nhãn hiệu nổi tiếng được công nhận.
Ông Phạm Vũ Khánh Toàn – Văn phòng Luật sư Phạm và Liên danh thì cho rằng, việc gộp chung các quy phạm liên quan đến các đối tượng trong Luật SHTT gây bất tiện trong việc phổ biến, nghiên cứu, đào tạo, xác lập và thực thi quyền cũng như trong việc sửa đổi và bổ sung luật. Vì vậy, nên tách Luật SHTT thành các luật đơn hành như Luật Quyền tác giả và quyền liên quan, Luật về Sáng chế, Luật về kiểu dáng công nghiệp,… Việc giải tỏa tình trạng tồn đọng đơn sở hữu công nghiệp với số lượng lớn và kéo dài bằng cách sửa luật (như cấp văn bằng bảo hộ tạm thời, hoãn thẩm định nội dung đến khi chủ văn bằng muốn thực thi hoặc sử dụng quyền); Quy định thời hạn giải quyết tối đa đối với các đơn vị, sau thời hạn nói trên nếu cơ quan quản lý nhà nước không ra quyết định từ chối thì đơn đó được chấp thuận, và các cơ quan nhà nước không có quyền ra quyết định từ chối nữa. Hiện nay, thầm định viên đang bị quá tải bởi số lượng đơn quá lớn, dẫn đến thẩm định kéo dài. Trong khi đó, không phải người nộp đơn nào cũng muốn thẩm định đơn ngay mà nhiều khi nộp đơn chỉ để giữ chỗ. Vì vậy, có thể xem xét mở rộng hơn nữa khung thời gian nộp yêu cầu thẩm định. Ông Toàn lấy ví dụ ở các nước châu Âu là 7 năm. Trong khoảng thời gian này, một số đơn sẽ được rút bỏ và như vậy số lượng đơn cần thẩm định sẽ giảm đi. Nếu bên thứ ba có nhu cầu làm rõ khả năng cấp bằng của sáng chế thì bên thứ ba này có thể tự nộp yêu cầu thẩm định.
Ngoài ra, tạo đàm còn đưa ra nhiều ý kiến cần sửa đổi, bổ sung trong Luật SHTT như bổ sung quy định về giải quyết các trường hợp có sự chồng lấn quyền được xác lập theo các định chế khác nhau mà Luật SHTT hiện chưa quy định; xây dựng mức tiền phạt về xử lý hành chính sao cho bù đắp được chi phí của nhà nước bỏ ra cho công tác điều tra, thu thập thông tin, chi phí đi lại giải quyết vi phạm, lương cho nhân sự của cơ quan thực thi; Chú trọng công tác đào tạo nghiệp vụ cho các cơ quan thực thi và đảm bảo việc luân chuyển hợp lý cán bộ trong khối cơ quan thực thi nhằm thất thoát nhân sự;…
Nguồn: Cục Công tác phía Nam.